Phát huy sức mạnh đối ngoại và thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao – Động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và phát huy tối đa mọi nguồn lực cho phát triển. Trên tinh thần đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW và Nghị quyết số 10-NQ/TW. Đây là hai nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, thể hiện tầm nhìn dài hạn của Đảng trong việc triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIV, đồng thời tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Việc ban hành hai nghị quyết không chỉ đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng mà còn thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc xây dựng một nền đối ngoại toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc ngoại giao Việt Nam, đồng thời phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững. Đây là bước cụ thể hóa chủ trương phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế toàn diện.
Đối với Nghị quyết số 06, nội dung xuyên suốt là tiếp tục kế thừa và phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ đã được Đảng xác lập và kiên định qua nhiều kỳ Đại hội. Trong mọi hoàn cảnh, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Điểm mới nổi bật của Nghị quyết là khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò tiên phong của công tác đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; huy động các nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển; nâng cao vị thế, uy tín quốc gia; đồng thời chủ động tham gia giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới. Tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường trong đối ngoại được đặt ở vị trí trung tâm, thể hiện bản lĩnh của một quốc gia đang phát triển năng động, chủ động thích ứng với những biến động toàn cầu.
Nghị quyết xác định rõ quan điểm phát triển đối ngoại phải tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế ngày càng cao của đất nước. Công tác đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân. Trong đó, đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân tiếp tục được phát huy đồng bộ, tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm phục vụ mục tiêu phát triển đất nước.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 06 cũng định hướng nhiều nhiệm vụ lớn trong thời gian tới như tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với các đối tác; nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, ngoại giao khoa học - công nghệ; phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo chiến lược; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới.
Song hành với công tác đối ngoại, Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị xác định phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, việc thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Nghị quyết khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Không chỉ bổ sung nguồn lực về vốn, khu vực này còn góp phần tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 10 là chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia. Theo đó, Việt Nam không đơn thuần cạnh tranh bằng ưu đãi đầu tư mà hướng tới xây dựng hệ sinh thái đầu tư hiện đại, minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh cao. Thu hút đầu tư nước ngoài được đặt trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu kinh tế, khu công nghiệp hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Một nội dung quan trọng khác của Nghị quyết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, bình đẳng và an toàn. Nhà nước công nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật. Đồng thời, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa phương trên cơ sở thống nhất chiến lược, quy hoạch, tiêu chí và cơ chế giám sát.
Nghị quyết số 10 cũng đề ra những mục tiêu đầy khát vọng. Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Xa hơn, đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân; đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực có sức cạnh tranh cao ở châu Á, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 30% GDP và chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Nghị quyết đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ như tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển hạ tầng chiến lược; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển doanh nghiệp trong nước đủ năng lực liên kết với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tăng cường quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư và nâng cao chất lượng công tác dự báo, điều phối quốc gia.
Thực tiễn cho thấy, ngay sau khi các nghị quyết được ban hành, các cấp ủy đảng, chính quyền, bộ, ngành và địa phương đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch hành động, cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn. Công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung nghị quyết được triển khai sâu rộng, góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp.
Nhiều địa phương đã tích cực cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp; chủ động xúc tiến đầu tư, thu hút các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Đồng thời, công tác đối ngoại địa phương ngày càng được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương đến các đối tác quốc tế, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 06 và Nghị quyết số 10, cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của người đứng đầu các cấp, các ngành, địa phương; kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có sáng kiến, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, tạo sức lan tỏa trong toàn xã hội. Những mô hình đổi mới, những cách làm hiệu quả cần được nhân rộng để góp phần đưa các nghị quyết của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.
Cùng với đó, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần được tăng cường hơn nữa. Các cơ quan báo chí, truyền thông, lực lượng tuyên truyền cần chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, khách quan; đồng thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái, xuyên tạc, thù địch nhằm phủ nhận đường lối đối ngoại của Đảng, bóp méo chủ trương phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoặc gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm khi tiếp cận, chia sẻ thông tin trên không gian mạng, góp phần xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Có thể khẳng định, Nghị quyết số 06 và Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị là những quyết sách chiến lược, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, cùng việc phát huy sức mạnh của đối ngoại và thu hút hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài chất lượng cao, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để tạo nên những bước đột phá mạnh mẽ về phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững.
