Phát huy tinh thần Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, đưa nghị quyết vào cuộc sống
Trong tiến trình triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tiếp tục cụ thể hóa những định hướng lớn về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới. Hội nghị diễn ra từ ngày 20 đến ngày 24/7/2026 tại Thủ đô Hà Nội, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đã thống nhất cao nhiều chủ trương, chính sách lớn, tạo cơ sở quan trọng để đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Trong thời gian tới, việc tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu rộng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, trong đó có Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, cần được xác định là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm. Công tác tuyên truyền phải giúp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân nhận thức đầy đủ hơn về những mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn; đồng thời tạo sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận trong hành động và quyết tâm tổ chức thực hiện.
Hội nghị Trung ương 3 - bước cụ thể hóa quan trọng Nghị quyết Đại hội XIV
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác lập những định hướng lớn cho đất nước trong giai đoạn mới, với yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, quản trị, kiến tạo phát triển và phát huy cao nhất các nguồn lực của đất nước. Hội nghị Trung ương 3 tiếp tục cụ thể hóa những định hướng đó bằng các nghị quyết, kết luận, quy định và chủ trương quan trọng, tạo thêm cơ sở chính trị để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Điểm đáng chú ý là các quyết sách của Hội nghị không chỉ hướng tới giải quyết từng vấn đề riêng lẻ, mà được đặt trong tổng thể yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị quốc gia, phát huy nguồn lực và củng cố khả năng bảo vệ đất nước. Tinh thần xuyên suốt là chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang quản trị, từ xử lý bị động sang chủ động kiến tạo, từ tháo gỡ từng điểm nghẽn sang tạo lập những năng lực phát triển mới.
Có thể khái quát ý nghĩa của các quyết sách Trung ương thông qua bốn bước chuyển chiến lược.
Thứ nhất, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Việc tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đặt ra yêu cầu xây dựng bộ máy tinh gọn, rõ chức năng, rõ thẩm quyền, hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Trung ương đã tập trung vào nội dung này, qua đó hướng tới khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán, đùn đẩy trách nhiệm và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.
Điểm nghẽn được đặt ra ở đây chính là tổ chức bộ máy và phương thức vận hành chưa đồng bộ với yêu cầu phát triển mới. Khi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được phân định rõ; trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng người đứng đầu được xác lập cụ thể; cơ chế phối hợp được cải thiện, năng lực hành động của cả hệ thống sẽ được nâng lên. Điều kiện quyết định là phải gắn phân cấp, phân quyền với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thứ hai, quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia. Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững không thể để nguồn lực bị phân tán, ách tắc bởi những rào cản về thể chế, đất đai, quy hoạch, đầu tư, hạ tầng hay cơ chế phối hợp giữa các địa phương.
Trong các quyết sách được Trung ương thông qua, việc định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan có ý nghĩa quan trọng trong tháo gỡ những vướng mắc về nguồn lực đất đai, tạo điều kiện để khai thác hiệu quả hơn nguồn lực cho phát triển. Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 3 đã xác định các quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật liên quan.
Đây là yêu cầu có ý nghĩa thiết thực đối với từng địa phương. Khi các điểm nghẽn về thể chế được tháo gỡ, quy hoạch được tổ chức thống nhất, nguồn lực đất đai, tài chính, hạ tầng và nhân lực được kết nối hiệu quả, sẽ tạo thêm dư địa cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để các chủ trương thực sự phát huy hiệu quả, quá trình thể chế hóa phải bảo đảm đồng bộ, minh bạch, khả thi; đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, sử dụng các nguồn lực công.
Thứ ba, xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người. Đây là một chuyển biến có tính căn bản về tư duy phát triển. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, tăng trưởng không thể chỉ dựa vào mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên hay tăng số lượng lao động. Nguồn lực quyết định ngày càng nằm ở chất lượng con người, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động.
Nghị quyết Trung ương 3 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam và Chương trình hành động số 33-CTr/TW của Bộ Chính trị đã tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu này.
Điểm nghẽn cần tháo gỡ là khả năng chuyển hóa tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành năng suất, sản phẩm và giá trị gia tăng còn chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, cần tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng công nghệ; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy chuyển đổi số; khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất.
Trong quá trình đó, con người phải được xác định vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, vừa là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển. Đầu tư cho giáo dục, đào tạo, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực số và khả năng thích ứng của người lao động chính là đầu tư cho tương lai của đất nước.
Thứ tư, chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển an toàn, bền vững. Những biến động của kinh tế thế giới, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các nguy cơ an ninh phi truyền thống và những thách thức mới đặt ra yêu cầu phải nâng cao khả năng dự báo, phòng ngừa và ứng phó.
Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 28/7/2026 về Chiến lược An ninh quốc gia là một trong những quyết sách quan trọng của Hội nghị Trung ương 3, thể hiện yêu cầu chủ động bảo vệ an ninh quốc gia, đồng thời gắn chặt nhiệm vụ bảo vệ an ninh với kiến tạo và thúc đẩy phát triển.
Cùng với đó, các chủ trương về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng môi trường xã hội ổn định, lành mạnh, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Đưa nghị quyết vào cuộc sống bằng hành động cụ thể
Nghị quyết chỉ thực sự có sức sống khi được chuyển hóa thành những kết quả cụ thể trong thực tiễn. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng sau Hội nghị Trung ương 3 là tổ chức quán triệt sâu sắc, đồng thời nhanh chóng cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị.
Trách nhiệm trước hết thuộc về cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu. Công tác tuyên truyền không thể chỉ dừng ở việc phổ biến văn bản, tổ chức hội nghị hay truyền đạt nội dung nghị quyết. Điều quan trọng hơn là làm cho cán bộ, đảng viên hiểu rõ: Trung ương quyết định vấn đề gì, tháo gỡ điểm nghẽn nào, tạo ra năng lực mới nào và địa phương, cơ quan, đơn vị mình phải làm gì để đóng góp vào quá trình thực hiện.
Mỗi nghị quyết, kết luận cần được cụ thể hóa theo phương châm rõ mục tiêu, rõ nhiệm vụ, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ sản phẩm và rõ kết quả. Đây phải trở thành yêu cầu xuyên suốt trong tổ chức thực hiện.
Đối với cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị, cần chủ động rà soát các chương trình, kế hoạch hiện có để xác định những nội dung cần bổ sung, điều chỉnh. Những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền phải được giải quyết kịp thời; những vấn đề vượt thẩm quyền phải được tổng hợp, báo cáo đúng cấp, đúng quy định. Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra tiến độ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.
Đặc biệt, cần kiên quyết khắc phục tình trạng chủ trương đúng nhưng thể chế hóa chậm, kế hoạch có nhưng tổ chức thực hiện không nghiêm, nhiệm vụ nhiều nhưng không xác định rõ trách nhiệm, đánh giá kết quả còn hình thức. Thước đo cuối cùng của việc thực hiện nghị quyết phải là hiệu quả công việc, sự chuyển biến trong quản trị, chất lượng phục vụ Nhân dân và những kết quả cụ thể trong phát triển kinh tế - xã hội.
Tạo đồng thuận, củng cố niềm tin, chủ động đấu tranh với thông tin sai lệch
Cùng với tuyên truyền những thành tựu, nội dung và ý nghĩa của Hội nghị Trung ương 3, cần chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời giải thích những vấn đề cán bộ, đảng viên và Nhân dân quan tâm. Trong môi trường thông tin đa chiều hiện nay, việc chậm cung cấp thông tin chính xác có thể tạo khoảng trống để thông tin sai lệch, xuyên tạc phát sinh và lan truyền.
Vì vậy, công tác tuyên truyền phải chủ động đi trước một bước. Các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan thông tin, tuyên truyền cần tăng cường thông tin về những nội dung cốt lõi của nghị quyết; phân tích bằng ngôn ngữ dễ hiểu, gắn với những vấn đề cụ thể của đời sống; đồng thời làm rõ những luận điệu xuyên tạc, suy diễn sai lệch về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái phải đi đôi với nâng cao chất lượng thông tin tích cực. Không chỉ phản bác cái sai, cần làm tốt việc cung cấp cái đúng; không chỉ giải thích chủ trương, cần chứng minh bằng kết quả thực tiễn. Khi người dân được tiếp cận thông tin đầy đủ, chính xác, minh bạch và dễ hiểu, niềm tin xã hội sẽ được củng cố, sự đồng thuận sẽ được tăng cường.
Quyết tâm biến nghị quyết thành động lực phát triển
Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã tạo thêm những định hướng và cơ sở quan trọng để triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, gắn nhiệm vụ trước mắt với mục tiêu của cả nhiệm kỳ đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Ý nghĩa lớn nhất của Hội nghị không chỉ nằm ở những quyết sách được thông qua, mà còn ở yêu cầu chuyển hóa các quyết sách ấy thành năng lực hành động và những kết quả cụ thể trong thực tiễn.
Đối với mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên, yêu cầu đặt ra là phải biến nhận thức thành hành động, biến nghị quyết thành chương trình công tác, biến chủ trương thành cơ chế, chính sách và biến quyết tâm chính trị thành kết quả phát triển.
Tinh thần đó cần được lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội: đã rõ mục tiêu thì phải rõ việc làm; đã rõ nhiệm vụ thì phải rõ người chịu trách nhiệm; đã có chủ trương thì phải nhanh chóng tổ chức thực hiện; đã triển khai thì phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá và đo lường bằng kết quả thực chất.
Phát huy tinh thần Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, tiếp tục đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 vào cuộc sống chính là trách nhiệm chính trị của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Với quyết tâm đổi mới, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương và phương thức hành động quyết liệt, hiệu quả, những quyết sách của Trung ương sẽ trở thành động lực tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực quản trị, tạo lập không gian phát triển mới và góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
