Chủ động, linh hoạt triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV, nâng tầm vị thế và phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển đất nước
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nhanh chóng, sâu sắc và khó dự báo, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng giữ vị trí quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, duy trì môi trường hòa bình, ổn định và mở rộng không gian phát triển của đất nước. Những chuyển động về kinh tế, chính trị, an ninh, khoa học - công nghệ, thương mại và cạnh tranh chiến lược giữa các nước đang tạo ra cả cơ hội và thách thức đan xen.
Trước yêu cầu đó, việc tiếp tục tuyên truyền, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa quan trọng. Nghị quyết góp phần cụ thể hóa đường lối đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, phục vụ trực tiếp hơn cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điểm nổi bật cần được nhận thức sâu sắc là đối ngoại trong giai đoạn mới không chỉ nhằm mở rộng quan hệ và nâng cao vị thế quốc tế, mà phải chuyển hóa hiệu quả các mối quan hệ đối ngoại, các cơ hội hợp tác và nguồn lực quốc tế thành động lực phục vụ phát triển đất nước, đồng thời củng cố tự chủ chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược
Một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra trong triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV là nâng cao năng lực nghiên cứu, phân tích và dự báo chiến lược.
Thực tiễn quốc tế cho thấy những thay đổi về chính trị, kinh tế, thương mại, công nghệ và an ninh có thể diễn ra rất nhanh. Một quyết định về chính sách thương mại, công nghệ hoặc địa chính trị của một quốc gia có thể tạo ra tác động lan tỏa đến nhiều nền kinh tế khác.
Trong điều kiện đó, nếu dự báo chậm, thông tin không đầy đủ hoặc đánh giá thiếu toàn diện, khả năng chủ động ứng phó sẽ bị hạn chế.
Vì vậy, công tác đối ngoại cần chuyển mạnh từ tư duy phản ứng trước sự kiện sang chủ động nhận diện xu hướng, dự báo nguy cơ và chuẩn bị phương án từ sớm.
Nghiên cứu chiến lược phải trả lời được những câu hỏi quan trọng: thế giới đang thay đổi theo hướng nào; những cơ hội nào đang mở ra; nguy cơ nào có thể tác động đến lợi ích quốc gia; những lĩnh vực nào Việt Nam cần chủ động tham gia; đâu là những vấn đề cần chuẩn bị phương án từ sớm, từ xa.
Năng lực dự báo càng tốt, khả năng chủ động hoạch định chính sách càng cao.
Tham mưu phải nhanh, chính xác và có khả năng hành động
Trong môi trường quốc tế biến động nhanh, thông tin có giá trị không chỉ vì chính xác mà còn vì đến đúng thời điểm.
Một cơ hội hợp tác nếu được nhận diện quá muộn có thể bị bỏ lỡ. Một nguy cơ nếu không được cảnh báo sớm có thể gây ra những tác động lớn.
Do đó, công tác tham mưu đối ngoại cần tiếp tục đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng thông tin và khả năng phân tích.
Các cơ quan làm công tác đối ngoại cần tăng cường phối hợp, chia sẻ dữ liệu, kết nối thông tin và đánh giá đa chiều.
Tham mưu phải bảo đảm yêu cầu nhanh, đúng, sâu, sát thực tiễn và có phương án hành động cụ thể.
Không chỉ báo cáo tình hình, cần làm rõ những lựa chọn chính sách, đánh giá ưu điểm, hạn chế, cơ hội, rủi ro và đề xuất phương án xử lý.
Đây là yêu cầu quan trọng để công tác đối ngoại thực sự trở thành một bộ phận chủ động trong hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển quốc gia.
Chủ động, linh hoạt trước những biến chuyển của thế giới
Chủ động không có nghĩa là hành động vội vàng; linh hoạt không có nghĩa là thiếu nguyên tắc.
Trong đối ngoại, sự chủ động và linh hoạt phải được đặt trên cơ sở kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định.
Việt Nam cần tiếp tục phát huy khả năng thích ứng, xử lý hài hòa các mối quan hệ, tranh thủ tối đa cơ hội hợp tác nhưng đồng thời chủ động phòng ngừa những tác động bất lợi.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn biến phức tạp, việc duy trì quan hệ đối ngoại rộng mở, cân bằng và thực chất có ý nghĩa đặc biệt.
Mục tiêu là tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho phát triển, hạn chế nguy cơ bị động, bất ngờ và nâng cao khả năng tự chủ trước các cú sốc bên ngoài.
Đối ngoại phải phục vụ trực tiếp cho phát triển
Một yêu cầu quan trọng trong giai đoạn mới là đưa công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế phục vụ trực tiếp, hiệu quả hơn cho phát triển đất nước.
Điều này đòi hỏi hoạt động đối ngoại phải gắn chặt với những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Ngoại giao không chỉ mở rộng quan hệ mà còn phải góp phần mở rộng thị trường, thu hút nguồn lực, công nghệ, tri thức và đầu tư chất lượng cao.
Các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, khoa học - công nghệ, giáo dục, đào tạo và văn hóa cần được kết nối chặt chẽ với công tác đối ngoại.
Mỗi chuyến thăm, mỗi cuộc gặp, mỗi thỏa thuận hợp tác cần hướng tới những kết quả cụ thể, có khả năng tạo ra giá trị cho nền kinh tế và người dân.
Đo lường hiệu quả đối ngoại không chỉ bằng số lượng hoạt động, mà ngày càng phải bằng kết quả và giá trị thực tế mang lại cho đất nước.
Mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Hội nhập quốc tế tạo điều kiện để Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng và mạng lưới kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, hội nhập cũng đặt doanh nghiệp và nền kinh tế trước sức ép cạnh tranh ngày càng lớn.
Do đó, đối ngoại phải góp phần mở rộng thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp Việt Nam; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, nguồn vốn, đối tác và kinh nghiệm quản trị tiên tiến.
Đồng thời, cần chủ động tham gia xây dựng và thực hiện các quy tắc quốc tế phù hợp với lợi ích của Việt Nam.
Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao không chỉ dựa vào chi phí thấp mà phải dựa trên chất lượng nguồn nhân lực, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo, thương hiệu, năng suất và khả năng thích ứng.
Đối ngoại cần trở thành cầu nối đưa những nguồn lực quốc tế phù hợp vào quá trình nâng cao các năng lực đó.
Củng cố tự chủ chiến lược
Hội nhập quốc tế càng sâu rộng càng đòi hỏi phải nâng cao khả năng tự chủ.
Tự chủ chiến lược không có nghĩa là đóng cửa hay tách khỏi thế giới. Ngược lại, đó là khả năng tham gia sâu rộng vào hợp tác quốc tế nhưng vẫn giữ được quyền chủ động trong những vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với đất nước.
Tự chủ cần được xây dựng trên nền tảng một nền kinh tế có sức chống chịu, năng lực sản xuất trong nước đủ mạnh, khoa học - công nghệ phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ thống thể chế hiệu quả.
Trong quá trình đó, đối ngoại góp phần đa dạng hóa quan hệ, đa dạng hóa thị trường và nguồn cung, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào một đối tác hoặc một thị trường.
Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp nền kinh tế chủ động hơn trước những biến động bên ngoài.
Hội nhập để phát triển, nhưng phải phát triển bằng nội lực
Hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ hội nhưng không thể thay thế nội lực của nền kinh tế.
Nguồn lực bên ngoài chỉ phát huy hiệu quả khi trong nước có thể chế phù hợp, hạ tầng đồng bộ, doanh nghiệp đủ năng lực và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu.
Vì vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực, giữa nâng cao sức mạnh bên trong với chủ động hội nhập.
Các địa phương cần chủ động kết nối hoạt động đối ngoại với chiến lược phát triển của địa phương; xác định rõ lợi thế cạnh tranh, nhu cầu thu hút đầu tư, thị trường xuất khẩu và các lĩnh vực cần tăng cường hợp tác quốc tế.
Đối ngoại địa phương phải ngày càng thực chất, có trọng tâm, tránh hình thức và hướng tới những kết quả cụ thể.
Hưng Yên chủ động hội nhập, mở rộng hợp tác phục vụ phát triển
Đối với tỉnh Hưng Yên, việc triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV cần gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh và khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của tỉnh.
Trong quá trình đó, cần chú trọng quảng bá hình ảnh, môi trường đầu tư và những lợi thế của Hưng Yên; tăng cường kết nối với các đối tác, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế.
Các hoạt động đối ngoại cần hướng tới thu hút nguồn lực cho những lĩnh vực tỉnh có nhu cầu và tiềm năng phát triển, nhất là công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, logistics, thương mại, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đào tạo và du lịch.
Cùng với thu hút đầu tư, cần chú trọng nâng cao chất lượng các dự án, ưu tiên những dự án sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, có khả năng tạo giá trị gia tăng và kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Đối ngoại cũng cần góp phần đưa sản phẩm, thương hiệu và hình ảnh Hưng Yên đến với nhiều thị trường hơn.
Nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác đối ngoại
Để thực hiện hiệu quả yêu cầu mới, yếu tố con người có ý nghĩa quyết định.
Đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, am hiểu sâu về tình hình quốc tế, pháp luật, kinh tế, văn hóa và có khả năng sử dụng ngoại ngữ, công nghệ.
Đặc biệt, cần nâng cao năng lực phân tích dữ liệu, nghiên cứu xu hướng và dự báo.
Trong môi trường hội nhập sâu rộng, cán bộ đối ngoại không chỉ cần biết “đối ngoại” mà còn phải hiểu rõ kinh tế, doanh nghiệp, công nghệ, thị trường và nhu cầu phát triển của địa phương, đất nước.
Đây là cơ sở để hoạt động tham mưu sát thực tế hơn và giúp kết nối hiệu quả giữa đối ngoại với phát triển.
Đẩy mạnh thông tin đối ngoại, tạo đồng thuận trong xã hội
Cùng với hoạt động đối ngoại, công tác thông tin đối ngoại cần được đổi mới mạnh mẽ.
Cần chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về chủ trương, đường lối đối ngoại của Việt Nam; những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội; môi trường đầu tư, kinh doanh; văn hóa, con người và hình ảnh đất nước.
Trong thời đại số, thông tin đối ngoại không chỉ được thực hiện qua các kênh truyền thống mà cần tận dụng hiệu quả nền tảng số, mạng xã hội và các phương thức truyền thông hiện đại.
Mỗi người dân, doanh nghiệp và địa phương đều có thể trở thành một chủ thể quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Thông tin đối ngoại tốt sẽ góp phần nâng cao hiểu biết quốc tế về Việt Nam, củng cố niềm tin, tạo dựng hình ảnh một quốc gia hòa bình, ổn định, năng động và có trách nhiệm.
Chủ động nắm bắt cơ hội hướng tới các mục tiêu năm 2030, tầm nhìn 2045
Triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW cần được đặt trong tổng thể thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Đây là chặng đường đòi hỏi Việt Nam phải tận dụng tốt những cơ hội từ cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đồng thời, phải chủ động ứng phó với những thách thức như cạnh tranh chiến lược, biến động thương mại, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng và những thay đổi nhanh chóng của công nghệ.
Trong bối cảnh đó, đối ngoại cần tiếp tục đi trước một bước trong nghiên cứu, dự báo; đồng hành với phát triển và góp phần tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi.
Một nền đối ngoại chủ động, linh hoạt, thực chất và hiệu quả sẽ góp phần mở rộng không gian phát triển, củng cố tự chủ chiến lược và nâng cao vị thế quốc gia.
Đưa đường lối đối ngoại Đại hội XIV vào cuộc sống
Để Nghị quyết số 06-NQ/TW đi vào thực tiễn, điều quan trọng là phải cụ thể hóa thành những nhiệm vụ rõ ràng, phù hợp với từng ngành, từng địa phương và từng lĩnh vực.
Các cấp, các ngành cần tiếp tục nâng cao nhận thức về vai trò của đối ngoại trong phát triển; tăng cường phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân; gắn hoạt động đối ngoại với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Mỗi hoạt động hợp tác cần hướng tới hiệu quả thực chất. Mỗi cơ hội quốc tế cần được nghiên cứu, đánh giá và khai thác phù hợp. Mỗi nguy cơ cần được nhận diện sớm để có phương án ứng phó.
Đó cũng chính là tinh thần chủ động, linh hoạt và trách nhiệm trong triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.
Trong một thế giới nhiều biến động, Việt Nam càng phải vững vàng về nguyên tắc, linh hoạt trong sách lược, chủ động trong hành động và thực chất trong hợp tác.
Với việc triển khai hiệu quả Nghị quyết số 06-NQ/TW, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế sẽ tiếp tục trở thành một nguồn lực quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc, củng cố tự chủ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng không gian phát triển.
Đối ngoại vì hòa bình, hợp tác và phát triển; hội nhập để nâng cao nội lực; chủ động kết nối thế giới để đưa nguồn lực quốc tế phục vụ tốt hơn cho mục tiêu xây dựng một Việt Nam phát triển, tự cường, thịnh vượng vào năm 2030, hướng tới tầm nhìn năm 2045.
