Bốn định hướng lớn đưa Nghị quyết 57-NQ/TW đi vào chiều sâu, tạo chuyển biến thực chất
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, hiệu lực quản trị và năng lực tự chủ của đất nước.
Sau quá trình triển khai, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là phải chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động, từ xây dựng chủ trương, kế hoạch sang tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể. Tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày 30/7/2026, các định hướng lớn cho giai đoạn tới tiếp tục được nhấn mạnh, trong đó trọng tâm là chuyển mạnh sang quản trị kết quả, phát triển lao động sáng tạo, hình thành sản phẩm và doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, đồng thời đưa đổi mới sáng tạo trở thành động lực của toàn xã hội.
Đây không chỉ là yêu cầu đối với các cơ quan chuyên môn về khoa học, công nghệ hay chuyển đổi số mà là định hướng có ý nghĩa đối với toàn bộ hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và từng người dân.
Chuyển mạnh từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả
Một trong những thay đổi quan trọng trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW thời gian tới là chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu quan tâm đến tiến độ sang quản trị bằng kết quả.
Nếu quản lý tiến độ chú trọng việc một nhiệm vụ đã bắt đầu hay chưa, triển khai đến đâu thì quản trị kết quả đặt câu hỏi sâu hơn: nhiệm vụ đó giải quyết vấn đề gì, tạo ra sản phẩm nào, phục vụ ai và giá trị thực tế mang lại là gì.
Theo định hướng mới, mỗi nhiệm vụ cần được xác định rõ vấn đề cần giải quyết, sản phẩm cuối cùng, đối tượng sử dụng, cơ quan và người chịu trách nhiệm, điều kiện thực hiện cũng như phương thức đánh giá. Kết quả phải có khả năng kiểm chứng, đánh giá và sử dụng trong thực tế.
Cách tiếp cận này có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bởi đây là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn, tính liên ngành cao và thường có quá trình triển khai phức tạp.
Một chương trình chuyển đổi số không chỉ được đánh giá bằng số lượng phần mềm được xây dựng; một đề tài nghiên cứu không chỉ được đánh giá bằng việc hoàn thành hồ sơ; một sáng kiến không chỉ dừng lại ở ý tưởng. Điều quan trọng hơn là sản phẩm có được đưa vào vận hành hay không, có người sử dụng hay không, có giải quyết được vấn đề thực tế hay không và có tạo ra giá trị mới hay không.
Vì vậy, các cơ quan, đơn vị cần đổi mới phương thức tổ chức thực hiện, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu, xác định rõ đầu ra của từng nhiệm vụ và theo dõi xuyên suốt từ khâu xác định bài toán đến khi hình thành sản phẩm, đưa vào sử dụng.
Tinh thần được đặt ra là đã xác định nhiệm vụ thì phải tổ chức thực hiện đến cùng; đã có sản phẩm thì phải hướng tới sử dụng và tạo giá trị thực tế.
Chuyển từ lao động giản đơn sang lao động sáng tạo
Định hướng thứ hai đặt ra yêu cầu chuyển căn bản từ mô hình phát triển dựa nhiều vào lao động giản đơn sang mô hình phát triển dựa ngày càng nhiều vào tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đây là sự thay đổi có tính nền tảng đối với mô hình phát triển.
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển nhanh, lợi thế cạnh tranh không còn chỉ nằm ở nguồn lao động dồi dào hay chi phí lao động thấp. Khả năng sáng tạo, làm chủ công nghệ, thích ứng với công nghệ mới và tạo ra những giá trị mới ngày càng trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh.
Theo định hướng được nêu trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, lao động sáng tạo phải trở thành nguồn lực quan trọng của quốc gia trong tương lai. Người nông dân cần từng bước làm chủ công nghệ trong sản xuất nông nghiệp; người công nhân cần có khả năng vận hành, khai thác và làm chủ thiết bị, công nghệ tiên tiến; doanh nhân cần tiên phong trong đổi mới sáng tạo; cán bộ cần chuyển từ tư duy quản lý đơn thuần sang tư duy kiến tạo phát triển.
Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường kỹ năng số, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng và học tập suốt đời.
Mỗi cơ quan, đơn vị cũng cần tạo môi trường khuyến khích cán bộ học hỏi, nghiên cứu, đề xuất sáng kiến và ứng dụng công nghệ vào công việc. Mỗi doanh nghiệp cần coi đào tạo và phát triển nhân lực là một bộ phận của chiến lược đổi mới. Mỗi người lao động cần chủ động nâng cao trình độ, kỹ năng và khả năng thích ứng với sự thay đổi của công nghệ.
Chuyển từ lao động giản đơn sang lao động sáng tạo vì thế không chỉ là câu chuyện của ngành giáo dục hay thị trường lao động, mà là quá trình chuyển đổi phương thức phát triển của cả nền kinh tế và xã hội.
Tập trung nguồn lực để hình thành sản phẩm, thị trường và doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh
Định hướng thứ ba nhấn mạnh yêu cầu đưa hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đến gần hơn với thị trường và đời sống.
Khoa học, công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi kết quả nghiên cứu có khả năng được ứng dụng, tạo ra sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh hoặc phương thức quản trị mới, qua đó tạo giá trị cho xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Vì vậy, việc lựa chọn và triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ cần xuất phát nhiều hơn từ những bài toán thực tiễn. Ngay từ đầu phải quan tâm đến khả năng ứng dụng, đối tượng sử dụng, thị trường và chủ thể có khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tế.
Đặc biệt, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào toàn bộ quá trình, từ xác định vấn đề, nghiên cứu, thử nghiệm đến thương mại hóa sản phẩm. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, hoàn thiện chính sách, đặt hàng, hỗ trợ và tạo điều kiện để các sản phẩm, công nghệ mới có môi trường phát triển. Các viện nghiên cứu, trường đại học cần tăng cường gắn kết với doanh nghiệp và nhu cầu thực tế của nền kinh tế.
Cách tiếp cận này góp phần hình thành mối liên kết chặt chẽ hơn giữa Nhà nước - nhà khoa học - nhà trường - doanh nghiệp - thị trường.
Đối với địa phương, định hướng này đặt ra yêu cầu phải xác định những vấn đề thực tiễn cần giải quyết bằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để những sản phẩm, mô hình và sáng kiến có khả năng ứng dụng được phát triển và nhân rộng.
Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm nhiều nhiệm vụ nghiên cứu riêng lẻ mà là tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và mô hình có khả năng đứng vững trên thị trường.
Chuyển từ đổi mới sáng tạo trong một số lĩnh vực sang đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội
Nếu ba định hướng trên tập trung nhiều vào phương thức quản trị, nguồn nhân lực và sản phẩm, thì định hướng thứ tư mở rộng phạm vi của đổi mới sáng tạo đến toàn xã hội.
Đổi mới sáng tạo không chỉ là nhiệm vụ của nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học hay doanh nghiệp công nghệ. Đổi mới sáng tạo cần trở thành một phương thức tư duy và hành động trong hoạt động của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường học, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư.
Theo định hướng được nhấn mạnh trong giai đoạn tới, mỗi người dân đều có thể trở thành chủ thể đổi mới sáng tạo; mỗi doanh nghiệp cần coi đổi mới sáng tạo là động lực phát triển; mỗi cán bộ cần hình thành tư duy kiến tạo; mỗi ngành, mỗi địa phương cần chủ động đổi mới trong chính lĩnh vực phụ trách.
Điều đó có nghĩa là đổi mới sáng tạo phải được thể hiện ngay trong những công việc hằng ngày: một quy trình hành chính được tổ chức lại để thuận tiện hơn; một phương thức sản xuất được cải tiến; một sản phẩm được thiết kế phù hợp hơn với nhu cầu người sử dụng; một cách thức quản lý được thay đổi để tiết kiệm nguồn lực; một giải pháp công nghệ được ứng dụng để nâng cao hiệu quả công việc.
Khi đổi mới sáng tạo trở thành một phần thường xuyên của đời sống kinh tế - xã hội, năng lực sáng tạo của từng cá nhân sẽ được kết nối và tạo thành sức mạnh chung của cộng đồng.
Đây cũng là cơ sở để xây dựng xã hội học tập, xã hội sáng tạo và hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo rộng khắp.
Đưa Nghị quyết vào cuộc sống bằng những kết quả cụ thể
Bốn định hướng lớn trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW giai đoạn tới có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Quản trị kết quả tạo ra yêu cầu về sản phẩm và hiệu quả thực chất. Nguồn nhân lực sáng tạo tạo ra năng lực để hình thành những sản phẩm và phương thức phát triển mới. Việc tập trung nguồn lực cho sản phẩm, thị trường và doanh nghiệp tạo ra môi trường để tri thức và công nghệ chuyển hóa thành giá trị kinh tế - xã hội. Còn việc đưa đổi mới sáng tạo trở thành hoạt động của toàn xã hội sẽ mở rộng và lan tỏa những động lực đó đến mọi lĩnh vực của đời sống.
Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ ngày 7/7/2026 về kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ chủ trương sang kết quả thực tế, trong đó các nhiệm vụ chỉ thực sự được coi là hoàn thành khi tạo ra sản phẩm, có khả năng kiểm chứng và được sử dụng trong thực tế.
Đối với các cơ quan, đơn vị, việc quán triệt Nghị quyết cần được gắn với những vấn đề cụ thể của từng ngành, từng địa phương và từng lĩnh vực công tác. Cần tránh tư duy coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ riêng của một bộ phận chuyên môn.
Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, yêu cầu đặt ra là chủ động thay đổi tư duy làm việc, tăng cường ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu, cải tiến quy trình và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, cần chủ động đầu tư cho công nghệ, nhân lực và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực thích ứng và khả năng cạnh tranh.
Đối với người dân, cần hình thành thói quen học tập, cập nhật kiến thức, sử dụng công nghệ và chủ động tham gia vào quá trình chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo của xã hội.
Tạo chuyển biến mới trong mô hình phát triển
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một đột phá quan trọng, gắn với yêu cầu đổi mới mô hình phát triển của đất nước.
Trong giai đoạn tới, việc triển khai Nghị quyết cần tiếp tục được thực hiện với tư duy mới, phương thức mới và yêu cầu cao hơn về kết quả.
Từ quản lý tiến độ đến quản trị kết quả; từ lao động giản đơn đến lao động sáng tạo; từ nghiên cứu và ứng dụng riêng lẻ đến hình thành sản phẩm, thị trường và doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh; từ đổi mới sáng tạo trong một số lĩnh vực đến đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội — đó là những chuyển biến có ý nghĩa quan trọng để đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực của phát triển.
Điều quan trọng là mỗi chủ trương phải được cụ thể hóa thành hành động, mỗi nhiệm vụ phải hướng tới sản phẩm và mỗi sản phẩm phải hướng tới giá trị thực tế. Khi tinh thần đổi mới được lan tỏa từ cơ quan quản lý đến doanh nghiệp, từ nhà trường đến nơi sản xuất, từ đội ngũ chuyên gia đến từng người dân, sức mạnh của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ được phát huy rộng hơn, sâu hơn.
Qua đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ tạo động lực cho quá trình chuyển đổi số hay phát triển khoa học, công nghệ mà còn góp phần hình thành phương thức phát triển mới, dựa nhiều hơn vào tri thức, sáng tạo, công nghệ và năng lực con người; tạo nền tảng để đất nước phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn mới.
